-
Thông tin E-mail
491835802@qq.com
-
Điện thoại
15981872973
-
Địa chỉ
Viện số 2 đường Hàng Hải Nam, quận 2, thành phố Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam
Công ty TNHH Thiết bị dụng cụ Hà Nam Hongzhiyi
491835802@qq.com
15981872973
Viện số 2 đường Hàng Hải Nam, quận 2, thành phố Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam
Giới thiệu cơ bản:
Lượng nước thải trong phòng thí nghiệm của trường đại học thấp, gián đoạn mạnh, nguy hiểm cao, thành phần của các chất ô nhiễm khác nhau, do đó dẫn đến các nguyên tắc và phương pháp xử lý khác nhau, do đó, xử lý loại nước thải này có một số khó khăn. Hiện nay có một số phương pháp xử lý tương đối chín muồi đối với loại nước thải phòng thí nghiệm này.
1 Phương pháp kết tủa flocculation
Phương pháp này thích hợp cho nước thải thí nghiệm vô cơ chứa nhiều ion kim loại nặng. Khi các ion kim loại nặng trong nước thải được xác định, chất flocculant thích hợp được chọn, chẳng hạn như vôi, muối sắt, muối nhôm, v.v., trong điều kiện kiềm yếu có thể hình thành kết tủa flocculant như Mn(OH)2, Fe(OH)3, Al(OH)3, đồng thời những kết tủa flocculant này cũng có tác dụng hấp phụ, có thể loại bỏ các ion kim loại nặng trong khi loại bỏ một số chất gây ô nhiễm khác trong nước, giảm nhu cầu oxy hóa học trong nước, cải thiện khả năng sinh hóa của nước thải.
2 Phương pháp kết tủa sulfide
Phương pháp này chủ yếu nhằm vào nước thải trong phòng thí nghiệm có chứa cadmium, chì, thủy ngân và các kim loại nặng khác, thường là Na2S hoặc NaHS để chuyển đổi kim loại nặng trong nước thải thành sulfua kim loại khó hòa tan trong nước, sau đó tách ra với kết tủa Fe(OH)3. Thực hành cụ thể: điều chỉnh giá trị PH của nước thải đến 8,0-10,0, thêm Na2S dư thừa vào nước thải, làm cho nó tạo ra kết tủa sulfua, sau đó thêm FeSO4 làm chất đồng kết tủa, FeS kết quả hấp thụ ion lưu huỳnh kim loại lơ lửng trong nước để tạo thành đồng kết tủa, đứng, tách và lọc.
3 Phương pháp khử oxy hóa và kết tủa
Nguyên lý của phương pháp này là: các ion kim loại vô cơ ở trạng thái ion có thể sử dụng một số chất khử để chuyển đổi chúng thành các đơn chất kim loại và sau đó tách ra. Các chất khử thường được sử dụng là Fe, Zn, NaBH4, v.v.
Phương pháp hấp thụ than hoạt tính Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để loại bỏ các chất hữu cơ ở trạng thái hòa tan không thể loại bỏ bằng các phương pháp hóa học hoặc vật lý. Phương pháp xử lý cụ thể: nước thải được chia thành hai pha hữu cơ và vô cơ và tách ra, sau đó hấp phụ thứ cấp bằng than hoạt tính, tỷ lệ loại bỏ nhu cầu oxy hóa học của phương pháp này có thể đạt 93%, đồng thời than hoạt tính cũng có thể hấp thụ một số ion kim loại vô cơ.
5 Phương pháp đốt
Phương pháp này áp dụng cho các chất thải có thể hình thành như dịch đục sữa. Nhưng phải tránh ô nhiễm thứ cấp do sử dụng phương pháp này. Ví dụ, chất thải hữu cơ chỉ chứa các nguyên tố carbon, hydro, oxy trong quá trình đốt cháy thường không gây ô nhiễm thứ cấp, và chất thải hữu cơ chứa halogen, nitơ, lưu huỳnh và các nguyên tố khác khi đốt sẽ tạo ra NO, NO2, SO2 và các loại khí độc khác, lúc này nên xem xét việc sử dụng các phương pháp khác.
6 Các cách khác để xử lý nước thải thí nghiệm với ion kim loại nặng
Trong phương pháp xử lý nước thải có chứa ion kim loại nặng, ngoài các phương pháp kết tủa sulfua và flocculation ở trên, còn có phương pháp ngưng tụ điện phân, phương pháp hấp phụ, phương pháp tách từ và phương pháp ly tâm giảm, phương pháp trao đổi ion, v.v. Ví dụ, khi sử dụng phương pháp ly tâm giảm để loại bỏ ion kim loại nặng, phản ứng 30 phút trong điều kiện 6.000r/phút, tỷ lệ loại bỏ ion thủy ngân đạt 100%, ion chì có thể đạt 98,3%.
7 Phương pháp xử lý nước thải hữu cơ nồng độ cao
Xử lý nước thải hữu cơ nồng độ cao ngoài việc có thể sử dụng phương pháp đốt và hấp phụ than hoạt tính nói trên, còn có thể sử dụng phương pháp chiết dung môi, phương pháp phân hủy oxy hóa, phương pháp thủy phân và phương pháp xử lý hóa sinh, v.v. Ví dụ, công nghệ xử lý sinh học tích hợp thủy phân nước thải hữu cơ nồng độ cao - chu trình hiếu khí được phát triển bởi Đại học Hạ Môn, có thể đạt được xử lý sinh học hiệu quả cao của nước thải hữu cơ nồng độ cao.
Sản phẩm này có thể được thiết kế và sản xuất theo tình hình thực tế của trang web của khách hàng.